Blog

Đức Tin, Hy Vọng, Tình Yêu

Đức Tin, Hy Vọng, Tình Yêu

Featured, Đức Tin0 comments

Mục sư Nguyễn Văn Huệ

Người Việt Nam là một dân tộc mộ đạo. Hầu như ai cũng có một tôn giáo, của cá nhân hoặc của gia đình. Không ai vỗ ngực tự xưng mình là vô thần.

Ai cũng sống hữu thần. Người Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng truyền thống của người Trung Hoa nên trong nền văn hoá và tín ngưỡng tôn giáo đã mang nặng dấu ấn của người Trung Hoa. Khổng Giáo và Lão Giáo phát xuất từ Trung Hoa. Phật Giáo được truyền đến Việt Nam qua ngã Trung Hoa. Có nhiều ảnh hưởng tốt như coi trọng nhân nghĩa lễ trí tín, tinh thần tập thể, lòng hiếu kính cha mẹ, niềm tự hào dân tộc, thái độ làm lành lánh dữ, hành động “dĩ hòa vi quý”… Nhưng có một ảnh hưởng không tốt, không đúng, đó là niềm tin về những chuyện thần thoại, những chuyện cổ tích thêu dệt, những chuyện phong thần. Người Trung Hoa tin có Ông Trời nhưng lại diễn dịch Ông Trời chẳng khác nào một ông vua Tàu ngày xưa có cung điện, triều thần, bá quan văn võ, với lính hầu trang bị cung tên gươm giáo, xa mã đầy màu sắc cùng bầy đoàn cung phi mỹ nữ… Họ đặt tên đó là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Từ đó đã nẩy sinh một hình ảnh của một Ông Trời tính khí thất thường, không phải toàn năng cũng chẳng toàn tri, chẳng toàn thiện cũng chẳng toàn mỹ, nhiều khi bị phản loạn mà chẳng làm được gì. Đây chỉ là những chuyện tưởng tượng, xem việc trên trời giống như chuyện trên mặt đất ngày xưa, đến nỗi đã làm trò cười cho những anh hề cải lương, những câu vọng cổ. Thế mà cũng có người tin và sống theo niềm tin đó.

Vậy làm thế nào để phân biệt một tôn giáo thật, một Đấng Chân Thần, một niềm tin đúng? Thiết nghĩ có ba tiêu chuẩn khách quan sau đây giúp chúng ta dễ dàng phân biệt và lựa chọn.

Đức Tin

Tiêu chuẩn trước tiên là đức tin. Tôn giáo nào cũng có đức tin cả. Nhưng câu hỏi đặt ra là đức tin đó có thật, có đúng hay không? Trong thực tế có một số niềm tin bị người ta chê là mê tín. Đức tin thật quan hệ nhất ở chỗ đối tượng của đức tin.

Tiến sĩ David A. Dewitt có kể câu chuyện thật sau đây: “Trong những ngày tôi còn học ở Viện Đại Học Michigan, chúng tôi gặp một trận bão tuyết thật phi thường. Thông thường, tuyết ở Michigan thì hơi ướt và chắc có thể giữ bạn khi bạn nhảy vào giữa đống tuyết, không sao cả. Tuy nhiên có một trận bão tuyết đặc biệt kéo dài ba ngày để lại một lớp tuyết khô như bọt cao tới tận cửa sổ lầu hai của một vài ký túc xá sinh viên. Nhiều bạn trẻ nghĩ rằng thật là thích khi từ trên lầu ba, lầu tư nhảy xuống đống tuyết bên ngoài với lòng tin là tuyết sẽ ôm giữ các bạn trong lớp áo mềm mại của tuyết và không sao cả. Nhưng sự thật không như họ tin. Chúng tôi có những bạn sinh viên gần như ở mọi lớp học đều có những người gãy chân khi nhảy từ lầu cao xuống tuyết. Quả thật các bạn tôi có đức tin thành thật. Họ cũng hành động theo đức tin đó. Vấn đề là đối tượng đức tin của họ không giữ họ được. Họ tin thành thật nhưng tiếc là đã tin không đúng.”

Họ dựa vào cây gậy và cây gậy đã gãy. Đối tượng đức tin của họ không vững chắc.

Người vô thần cũng sống trong đức tin của họ. Họ tin không có Đức Chúa Trời. Họ không giải thích được vấn đề nguyên nhân và hậu quả. Người hữu thần khi xem thấy loài người và muôn loài vạn vật đang hiện hữu thì tin rằng có một Đấng Tạo Hoá khôn ngoan vẽ kiểu và sáng tạo nên tất cả. Người hữu thần có lý. Người vô thần không tin có Đấng Tạo Hóa nên tìm cách giải nghĩa sự hiện hữu của loài người bằng triết lý vô thần. Người vô thần vô lý mà không biết. Một trong những chỗ dựa của họ là tư tưởng cho rằng mọi vật tự nhiên mà có. Mọi vật do tiến hóa mà thành. Tin như vậy càng tạo thêm nhiều câu hỏi hơn là câu giải đáp. Tin như vậy chẳng khác nào cho một con khỉ ngồi đánh máy. Nó cứ gõ lung tung hết ngày nầy qua ngày khác. Hãy dành cho nó đủ thời gian. Một ngày kia nó sẽ tạo ra được một vở kịch có tầm cở như vở kịch của Văn Hào Shakespeare hoặc những vần thơ như của Thi Hào Nguyễn Du.

Thưa bạn, đó không phải là đức tin của người theo Chúa. Người theo Chúa không phải như người liều mạng, cứ nhắm mắt nhảy đại vào đêm tối. Người theo Chúa là con của sự sáng, con của ban ngày. Người theo Chúa là người có đức tin thật. Đức tin thật hay đức tin không thật chỉ có thể phân biệt được ở chỗ đối tượng của đức tin đó có thật hay không. Đối tượng đức tin của người tin Chúa đặt nơi chính mình Đức Chúa Trời là Chân Thần và Lời hằng sống của Ngài. Đấng mà người tin Chúa nương dựa là Đấng Tạo Hoá sáng tạo loài người và muôn loài vạn vật. Đó là Đấng tự hữu và hằng hữu. Đó là Đấng toàn năng, toàn tri. Đó là Đức Chúa Trời thánh khiết cao cả nhưng yêu thương loài người và muốn kết bạn gần gũi với loài người, thậm chí đã hoá thân trở thành một người để sống giữa chúng ta. Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời vì Ngài là Thần Linh. Nhưng chúng ta có thể thấy Ngài bằng đức tin. Ngài đã tự bày tỏ chính mình Ngài cho chúng ta qua Con Một của Ngài là Đức Chúa Giê-xu vốn là Đức Chúa Trời thành người.

Kinh Thánh nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng nền tảng đức tin của chúng tôi là chính con người của Đức Chúa Giê-xu. “Ta cứ nhìn chăm Đức Chúa Giê-xu, là căn nguyên và cưú cánh của đức tin” (Hy Bá 12:2). Sứ đồ Phao-lô đã nói: “Những ngày còn sống trong thể xác, tôi sống trong niềm tin vào Con Đức Chúa Trời là Đấng đã yêu tôi và dâng hiến mạng sống Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20). Đức tin của chúng tôi dựa trên niềm tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời thành người và chúng tôi biểu lộ đức tin đó bằng sự tin cậy vâng lời Ngài.

Một trong những định nghĩa hữu ích về đức tin trong Kinh Thánh được tìm thấy trong Rô-ma 4:21: “tin chắc chắn Đức Chúa Trời có quyền thực hiện mọi điều Ngài hứa.” Đức tin là tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ làm điều Ngài đã phán hứa trong Kinh Thánh. Đây là lý do người muốn tìm kiếm Chúa cần học biết Kinh Thánh vì Kinh Thánh là Lời duy nhất đúng bày tỏ thánh ý của Đức Chúa Trời là Chân Thần cho chúng ta. Kinh Thánh là quyển sách có nhiều độc giả nhất. Kinh Thánh tồn tại lâu nhất trước sức công kích của kẻ thù nghịch và sự tàn phá của thời gian.

Tính đến năm 1998, Kinh Thánh đã được dịch ra 2,200 thứ tiếng nghĩa là hầu hết các ngôn ngữ chính trên thế giới. Kinh Thánh là kho tàng khôn ngoan của nhân loại, có giá trị vượt thời gian. Kinh Thánh có khả năng tự thuyết phục và quyền phép biến đổi lòng người. Kinh Thánh giống như một thư viện và bạn cần người quản thủ thư viện chỉ cho bạn nên đọc như thế nào và bắt đầu ở sách nào. Tôi đề nghị bạn hãy đọc Kinh Thánh cách chậm rãi, kỹ càng, không thiên kiến. Hãy đọc Kinh Thánh với tấm lòng chân thành tìm kiếm chân lý. Bạn sẽ gặp được Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Kinh Thánh là một pho sách bao gồm nhiều sách chia ra thành Cựu Ước và Tân Ước. Hãy bắt đầu bằng sách Phúc Âm Giăng và Thư Giăng Thứ  Nhất trong Tân Ước rồi sau đó đọc đến các sách khác. Đây là bước khởi đầu dẫn bạn đến đức tin thật và đối tượng đức tin bền vững muôn đời.

“Đức tin thật của người tin theo Chúa phải bao gồm cả ba yếu tố: cảm tình, lý trí và ý chí.”

Đức tin thật của người tin theo Chúa phải bao gồm cả ba yếu tố: cảm tình, lý trí và ý chí. Cảm tình là những cảm xúc chính đáng của một người khi suy nghĩ hoặc đối diện với đối tượng đức tin của mình. Đức tin thật phải bao gồm cả lý trí nghĩa là biết rõ điều mình tin là có thật. Tin phải có lý hoặc ít ra cũng là hữu lý nhất.

Có nhiều người có loại niềm tin bao gồm cảm xúc và lý trí nhưng đó vẫn chưa phải là đức tin thật dẫn đến sự cưú rỗi. Kinh Thánh chép: “Ma quỉ cũng tin có Đức Chúa Trời và run sợ.” Câu nầy cho thấy đức tin của Ma quỉ bao gồm cả lý trí và cảm xúc nhưng đó không phải là loại đức tin có hiệu quả tốt dẫn đến sự sống. Đức tin thật phải bao gồm yếu tố ý chí nữa. Ý chí là ý muốn vâng phục, quyết định làm đúng theo điều mình tin tưởng. Ý chí ở đây giống như một cô gái đem lòng yêu thương một thanh niên. Cô có cảm tình với anh. Cô tìm hiểu về gốc gác, tánh tình của anh và suy nghĩ lấy anh làm chồng là xứng đáng. Nhưng bấy nhiêu chưa đủ để họ nên nghĩa vợ chồng. Cô phải quyết định trao thân gởi phận cho anh khi đứng trước cha mẹ, hai họ hoặc người có thẩm quyền và tuyên bố bằng lòng nhận anh làm chồng. Từ đó hai người mới trở nên vợ chồng.

Đức tin của người tin thờ Chúa cũng như vậy. Người theo Chúa biết chắc Chúa là ai và Ngài đã làm gì cho đời sống mình, người đó cảm xúc trước tình thương và sự hy sinh cao cả của Chúa dành cho đời sống mình, nên quyết định trao thân gởi phận cho Ngài và tiếp tục trọn đời theo Ngài. Bao lâu khi còn sống trên thế gian, bấy lâu người theo Chúa bước đi bởi đức tin, tin chắc cuối cùng mọi sự rồi sẽ tốt đẹp đúng như Lời Chúa tiết lộ: “Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời.” Bạn đang có loại đức tin nầy chưa?

Hy Vọng

Tiêu chuẩn thứ hai để phân biệt một tôn giáo thật là niềm hy vọng. Người ta có thể sống thiếu cơm ăn áo mặc nhưng người ta không thể sống thiếu niềm hy vọng. Hy vọng là niềm tin hướng về tương lai. Một người tù tiếp tục sống vì hy vọng có ngày được tự do. Một người mắc bệnh nặng kiên trì sống vì hy vọng có ngày được lành. Một người nghèo cứ vui sống vì hy vọng có ngày khá giả hơn. Một người cố gắng làm lành vì hy vọng có ngày được thưởng. Một người bền lòng theo Đạo vì hy vọng có ngày được giải thoát, cứu rỗi. Người ta không thể tiếp tục sống mà không còn hy vọng. Chính vì đó mà có nhiều người giàu có, nổi tiếng, nhiều thanh niên mạnh khoẻ đã tự tử. Họ chết vì không còn hy vọng.

“Bạn có chắc Đấng bạn tin đang còn sống không? Đấng bạn đang tin có hiểu rõ hoàn cảnh của bạn và nghe được lời than thở nguyện ước của bạn không?”

Một tôn giáo thật phải là tôn giáo của hy vọng. Hy vọng trong đời nầy và hy vọng cả đời sau. Hy vọng làm cho lòng người vươn lên. Người ta hay phấn khởi khi nói đến việc tràn trề hy vọng. Tôn giáo bạn đang theo có thật sự đem lại cho bạn niềm hy vọng trong đời nầy và đời sau không? Bạn đã cầu nguyện với giáo chủ của bạn và bạn có được nhậm lời không? Giáo chủ của bạn là Đấng toàn năng hay bất năng? Đấng mà bạn tin tưởng có sẵn lòng giải quyết nan đề của bạn không? Bạn có chắc Đấng bạn tin đang còn sống không? Đấng bạn đang tin có hiểu rõ hoàn cảnh của bạn và nghe được lời than thở nguyện ước của bạn không? Quả thật không ai muốn tiếp tục sống trong hy vọng hão huyền.

Một tôn giáo dựa vào sức mình là chính không phải là tôn giáo đem lại hy vọng. Ai cũng thừa nhận sức người có hạn. Lấy sức hữu hạn để cố làm việc vô hạn sẽ không bao giờ thành công. Lấy sức mình để tự cưú rỗi mình là điều không tưởng. Người có tội cần được tha tội. Người tử tù cần được ân xá. Người bịnh nặng cần đúng thầy đúng thuốc. Người chết đuối giữa biển cần tàu cấp cứu. Người lạc mất cần người đi tìm. Loài người chúng ta đang cần được cưú rỗi. Hy vọng cuối cùng của loài người là chính mình Đức Chúa Trời  đến cứu mà thôi.

Người tin thờ Chúa có niềm hy vọng thật vững vàng. Hy vọng nầy đặt nơi chính mình Đức Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời thành người. Đức Chúa Giê-xu là Đấng hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi.

Hy vọng trước hết, đó là sự kiện Đức Chúa Giê-xu đã từ cõi chết sống lại. Sứ đồ Phi-e-rơ là nhân chứng tận mắt về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-xu đã viết: “Tôn vinh Đức Chúa Trời, Cha của Chúa Cưú Thế Giê-xu chúng ta! Bởi lòng nhân từ vô biên, Đức Chúa Trời đã cho chúng ta được tái sinh để làm con cái Ngài. Do đó, niềm hy vọng của chúng ta tràn trề sức sống vĩnh cửu vì Chúa Cưú Thế đã từ cõi chết sống lại” (1 Phê-rơ 1:3).

Hy vọng thứ hai, đó là sự kiện Đức Chúa Giê-xu đã thăng thiên về trời và hiện nay đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời để thường xuyên cầu thay và biện hộ cho chúng ta. Tác giả Thư Hy Bá đã viết: “Cả lời hứa, lời thề đều bất di bất dịch vì Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bội ước. Vậy những người tìm đến Ngài để tiếp nhận ân cưú rỗi đều được niềm an ủi lớn lao và hy vọng chắc chắn trong Ngài. Niềm hy vọng của chúng ta vừa vững chắc vừa an toàn, như chiếc neo của linh hồn giữ chặt chúng ta trong Đức Chúa Trời; Ngài đang ngự trong Nơi Chí Thánh trên trời. Chúa Giê-xu đã vào đó trước chúng ta để cầu thay cho chúng ta” (Hy-bá 6:18-20).

Hy vọng thứ ba, đó là sự kiện Chúa Cứu Thế sẽ trở lại thế gian lần thứ hai. Đây là lời Chúa hứa rõ ràng trong Kinh Thánh. “Đồng thời, ta phải kiên nhẫn đợi chờ sự tái lâm vinh quang của Chúa Cưú Thế Giê-xu, Đấng Cưú Tinh và Đức Chúa Trời cao cả” (Tích 2:13). Những lời hứa của Chúa về việc Ngài đến thế gian lần thứ nhất đã hoàn toàn ứng nghiệm. Những lời hứa của Chúa về việc Ngài sẽ trở lại thế gian một lần nữa để tiếp rước những người tin thờ Ngài và để phán xét thế gian chắc chắn sẽ hoàn toàn ứng nghiệm. Hy vọng trong Đức Chúa Giê-xu đem lại sự vui thỏa và bình an (Rô-ma 15:13), sự thanh khiết tâm hồn (1Giăng 3:2-3), sự tự chế (Tít 2:11-13) và sự kiên nhẩn (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3)… Bạn đang có niềm hy vọng nầy chưa?

Tình Yêu Thương

Tiêu chuẩn thứ ba để phân biệt một tôn giáo thật là tình yêu thương. Người ta không thể sống còn mà thiếu tình yêu thương. Một tôn giáo không phát xuất từ tình thương và sản sinh ra tình thương không phải là tôn giáo thật. Một tôn giáo chủ xướng bách hại, tiêu diệt những người không cùng niềm tin như mình cũng không phải là tôn giáo thật. Các giáo hữu tôn giáo trên thế giới ít nhiều đều cổ vũ cho tình thương, bác ái, từ bi, hỉ xả, ít ra cũng giữa những người đồng đạo.

” Tình yêu siêu nhiên có đặc tính cứ tiếp tục yêu cho dù thái độ của người được yêu có đáp trả hay không, có xứng đáng hay không.”

Có hai loại tình thương. Đó là tình thương tự nhiên và tình thương siêu nhiên. Tình thương tự nhiên thì người nào cũng có và con vật nào cũng có. Nhờ tình thương đó mà người ta có thể sống với nhau và nhờ đó con người mới tồn tại trên mặt đất nầy. Dĩ nhiên loại tình thương nầy cũng do Đấng Tạo Hóa phú ban và đã trở thành vốn quí của nhân loại. Tình thương yêu siêu nhiên là loại tình yêu chỉ có Đức Chúa Trời mới có. Tình yêu đó hiện diện ở đời sống những người được Chúa đổ tình yêu của Ngài vào khi Ngài sống trong lòng người đó. Tình yêu siêu nhiên có đặc tính vị tha, quan tâm đến tha nhân, sẵn lòng rộng rãi ban cho người khác điều quí nhất của mình mà không so đo tính toán, không vị kỷ. Tình yêu siêu nhiên có tính hy sinh cao cả khi quên mình cứu vớt người đang hư mất. Tình yêu siêu nhiên có đặc tính cứ tiếp tục yêu cho dù thái độ của người được yêu có đáp trả hay không, có xứng đáng hay không. Đó là loại tình yêu của Đức Chúa Giê-su ban phát cho nhân loại chúng ta. Đó là loại tình yêu đang nẩy nở trong lòng những người tin thờ Chúa.

Chúng tôi đang yêu Chúa và yêu nhau. Chúng tôi được lệnh phải hết lòng hết sức yêu Chúa và yêu thương nhau. Thánh Kinh dạy rõ: “Anh em thân yêu, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu phát xuất từ Đức Chúa Trời. Những người biết yêu thương chứng tỏ họ là con cái Đức Chúa Trời và biết rõ Đức Chúa Trời. Ai không yêu thương là chưa biết Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời chính là tình yêu. Đức Chúa Trời biểu lộ tình yêu khi sai Con Ngài xuống trần chịu chết để đem lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu. Nhìn hành động đó chúng ta hiểu được đâu là tình yêu đích thực: không phải chúng ta yêu Đức Chúa Trời trước, nhưng Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta, sai Con Ngài đến hy sinh chuộc tội chúng ta” (1Giăng 4:7-10).

Chính tình thương nầy đã cảm động lòng những con cái thật của Chúa khắp năm châu. Chính vì đó mà Cơ Đốc Giáo và chỉ có Cơ Đốc Giáo mới có được những tổ chức từ thiện có tính cách toàn cầu. Tuần báo Time tổng kết riêng trong năm 1998, người dân Mỹ đã đóng góp cho các tổ chức từ thiện 142 tỉ Mỹ kim. Những tổ chức toàn cầu như Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, Catholic Charities, World Vision, World Relief v.v… đều là kết quả phát xuất từ tình yêu thương của những người tin thờ Đức Chúa Giê-su trên toàn thế giới. Nhiều người Việt đang định cư ở các nước Âu Mỹ cách tự do, thịnh vượng cũng là nhờ ảnh hưởng tình thương mà Chúa Cứu Thế Giê-su đã dạy dỗ ban truyền cho nhân dân ở những quốc gia nầy.

Dưới chân bức tượng Nữ Thần Tự Do ở Nữu Ước, người ta thấy khắc ghi mấy dòng sau đây: “Chúng tôi mở rộng vòng tay đón nhận tất cả những người trôi giạt, đói khát, rách rưới, từng bị áp bức tù đày, đến đây trong tình huynh đệ.” Bạn đang kinh nghiệm loại tình yêu thương nầy chưa?

Đạo Chúa Là Một Mối Liên Hệ

“Có một điều chúng tôi sung sướng và thoả lòng hơn bạn…”

Xem trái thì biết cây. Bạn đang có đức tin, hy vọng và tình thương thật sự hay không? Tôn giáo hoặc con đường tín ngưỡng bạn đang đi có đem lại cho bạn đức tin thật, niềm hy vọng thật và tình thương thật hay không? Tôi thân ái mời bạn hãy dành thì giờ tìm hiểu về đức tin, niềm hy vọng và tình yêu thương của chúng tôi, những người tin thờ Đức Chúa Giê-su. Dĩ nhiên Chúa Cưú Thế mới hoàn hảo chứ người theo Chúa không ai toàn hảo cả. Bạn có biết không, hầu hết chúng tôi đều tự nhận thấy mình bất toàn, tội lỗi, nhưng chúng tôi đang vui mừng vì Chúa Cứu Thế đã tha tội cho chúng tôi và chúng tôi đang bước từng bước theo Ngài. Đến khi vào Nước Chúa chúng tôi mới thực sự hoàn hảo, còn bao lâu chúng tôi còn sống trên trần gian chúng tôi có yếu đuối, có vấp ngã. Có một điều chúng tôi sung sướng và thoả lòng hơn bạn, đó là chúng tôi biết Chúa là ai và Ngài đã làm gì cho đời sống chúng tôi. Chúng tôi đang có đức tin, hy vọng và tình yêu thật sự do Chúa ban cho.,/p>

“Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa, Chúa sẽ mở cho.” Rất mong bạn tìm được đức tin, hy vọng và tình thương thật trong Chúa Cứu Thế Giê-su. Rất mong được thông công chuyện trò với bạn, giúp đỡ bạn, hoặc trao đổi thư từ với bạn. Theo Chúa không phải là theo một tôn giáo cho có đạo, theo Chúa là thiết lập mối liên hệ với Chúa trong tình phụ tử để sống với Chúa mỗi ngày và mãi mãi.

Mục sư Nguyễn Văn Huệ

Leave a Reply